Tin nổi bật
(CGOL) Người Việt thường vốn trọng ân nghĩa, việc kính nhớ ông bà tổ tiên chính là đạo làm người, bởi nó xuất phát từ lòng thành kính biết ơn xuất con cháu đối với những bậc đã sinh thành ra mình.
Kính nhớ ông bà tổ tiên là cái đạo của người dân Việt Nam. Chúng ta thường không hiểu cái đạo ấy như một tôn giáo có tổ chức, nhưng là đạo của con người, đạo của ân nghĩa. Ki-tô giáo trong giai đoạn khai sinh tại Việt Nam đã đón nhận đạo ấy như thế nào? Đây là một câu hỏi lớn mà nhiều người đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Đọc lại lịch sử Giáo hội, chúng ta thấy đã có một cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà truyền giáo về vấn đề này. Trước khi đến Việt Nam, các Cha dòng Tên đã đến truyền giáo tại Trung Hoa, vì nhiệt tình và vì đầu óc cởi mở, các ngài cũng muốn cho dân Trung Hoa cúng tế Khổng Tử và ông bà tổ tiên, vì theo các ngài, những lễ nghi cúng tế đối với các bậc thánh hiền của dân tộc cũng như ông bà tổ tiên là dấu bề ngoài của lòng biết ơn cung kính báo hiếu. Nhưng về sau, nhiều nhà truyền giáo thuộc các dòng khác, nhất là các cha thuộc Hội Thừa sai Balê cho rằng những lễ nghi ấy là rối đạo, chẳng khác gì những nghi lễ thờ cúng bụt thần ma quỷ.
Sự bất đồng ý kiến kéo dài nhiều năm và lôi kéo sự can thiệp của Toà thánh. Sắc lệnh năm 1715 của Đức Clêmantê XI và sắc lệnh năm 1742 của Đức Bênêđictô XIV vẫn cấm nhặt các tín hữu không được tham dự các nghi lễ thờ Khổng Tử và ông bà tổ tiên, vì cho đó là hoàn toàn dị đoan. Mãi đến năm 1939, Đức Piô XII mới cho công bố sắc lệnh công nhận rằng những lễ nghi thờ kính Khổng Tử và ông bà tổ tiên không phát là lễ nghi tôn giáo, mà chỉ là những biểu thị của lòng sùng bái chính đáng do đó người Công giáo có thể tham dự các lễ nghi ấy. Hội thảo lần thứ VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc, được tổ chực tại Nha Trang từ ngày 12 – 14/11/1974, các Giám mục chủ toạ khoá hội thảo đã đồng chấp thuận cho phổ biến việc thi hành trong toàn quốc, những quyết nghị của Ủy Ban Giám mục về Truyền Bá Phúc Âm ngày 14/6/1965, về các lễ nghi tôn kính Ông Bà Tổ Tiên, như sau:
1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ đó không có bày biện gì mê tín dị đoan.
2. Việc đốt nhan hay đèn nến trên bàn thờ gia tiên hay bái lạy trước bàn thờ tổ tiên là những cử chỉ hiếu thảo tôn kính được phép làm.
3. Được cúng giỗ trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì mê tín dị đoan, như đốt vàng mã, giảm thiểu những lễ vật bày tỏ ý nghĩa thành kính biết ơn ông bà như đang hòa trái hương đèn.
4. Trong hôn lễ cô dâu chú rễ được làm lễ gia tiên trước bàn thờ tổ tiên, vì đó là nghĩ lễ tỏ lòng biết ơn hiếu kính trình diện với ông bà.
5. Trong tang lễ được bái lạy trước khi thi hài người quá cố để tỏ lòng cung kính người đã khuất, cũng ngư Giáo Hội cho phép đốt nến xông hương hoặc nghiêng minhg trước thi hài người quá cố.
6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị Thần hoàng, quen gọi là phúc thần tại đình làng, đee tỏ lòng kính những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hay là những ân nhân của dân làng, chứ không vì mê tín đối với và yêu thần tà ma. Như vậy, Hội thánh mong muốn mỗi người con cái Chúa phải biết chu toàn đạo hiếu. Khi cha mẹ còn sống thì nghĩa cử hiếu thảo của người Công Giáo và không Công Giáo có thể coi như giống nhau: yêu mến, kính trọng, vâng lời, giúp đỡ…
Trần Hà
BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC
- 01 Từng bị cử hành Thánh lễ cưới ngoài nhà thờ vì “ăn cơm trước kẻng”: Những quan niệm xưa và nay
- 02 Nhiều giáo dân trăn trở: Mạng xã hội của linh mục không nên là nơi “thượng vàng hạ cám”
- 03 Những việc mà phụng vụ khuyên làm trong mùa Phục sinh
- 04 Những cử hành thiếu chính xác hay mắc phải trong Phụng vụ tuần Thánh
- 05 Những thích nghi phụng vụ cho phép để cử hành Thánh lễ phong phú hơn
